sửa chữa máy nén khí, Phụ tùng máy nén khí, Bảo dưỡng máy nén khí tại khu vực miền bắc, Sửa chữa máy nén khí tại khu vực miền Bắc màng phản quang Trung cấp dược

Gà ác và 7 bài thuốc bổ

Từ trước đến nay ai cũng biết gà ác rất bổ dưỡng đặc biệt là phụ nữ mang thai, sản phụ, trẻ em còi xương, người gầy yếu, ốm dậy, chán ăn...Theo y học cổ truyền thịt gà ác có vị ngọt, tính ấm, không độc. Các món ăn chế biến từ thịt gà ác không chỉ thơm ngon mà còn có tác dụng chữa bệnh, các bạn có thể tham khảo 7 cách chế biến dưới đây.

Ga ac va 7 bai thuoc bo
Để chữa bệnh, người ta thường dùng thịt gà ác kết hợp với một số vị thuốc thành các bài thuốc dùng trong các trường hợp sau:

Bài 1: Gà ác 1 con, thảo quả 2 quả, bột nghệ 3g, hồ tiêu 6g, vỏ quýt 3g, thêm hành, dấm, nước mắm và lượng nước thích hợp, nấu nhừ, ăn khi đói. Dùng cho người bị suy nhược cơ thể, đầy bụng không tiêu.


Bài 2: Thịt gà ác 200g rửa sạch, chặt miếng, cho vào nồi hầm với 10g kỷ tử, vài lát gừng tươi cho thật nhừ, cho thêm gia vị ăn nóng. Dùng cho những người hay đau đầu, hoa mắt, chóng mặt, ù tai, đau lưng do can thận âm hư.

Bài 3: Gà ác 1 con, làm sạch, bỏ nội tạng, chặt miếng; hoàng kỳ100g rửa sạch, cắt đoạn. Tất cả cho vào nồi hầm thật nhừ, thêm gia vị, chia ăn vài lần trong ngày. Công dụng bổ huyết, điều kinh, nên ăn trước kỳ kinh 3 ngày, dùng liên tục trong 5 ngày.


Bài 4: Gà ác 1 con, sinh địa 15g, bạch thược 10g, xuyên khung 8g. Gà cho vào hầm nhừ. Các vị thuốc thái nhỏ ngâm trong 1/2 cốc rượu sau đó cho vào gà, tiếp tục hầm nhừ, ăn nóng. Thích hợp với người bị thiếu máu.

Bài 5: Thịt gà ác 200g rửa sạch, chặt miếng, cho vào nồi hầm cùng với đông trùng hạ thảo 10g, hoài sơn 30g cho thật nhừ, thêm gia vị, chia ăn vài lần trong ngày. Công dụng bổ tinh khí, cường gân cốt; dùng cho các trường hợp cơ thể suy nhược, gầy còm, ốm yếu.


Bài 6: Gà ác 1 con, làm sạch, bỏ nội tạng, tam thất 5g, thái phiến, cho vào trong bụng gà cùng với một chút rượu và gia vị, hầm cách thủy đến khi chin, ăn nóng. Công dụng bổ khí huyết, cường gân cốt, thường dùng cho những bênh nhân bị gãy xương, đau xương khớp.

Bài 7: Gà ác 1 con, gạo tẻ 100g, bách hợp 30g. Gà làm sạch bỏ ruột, cho bách hợp vào bụng gà khâu lại, thêm gạo, nước, gia vị rồi hầm nhừ. Dùng cho các trường hợp suy nhược gầy còm, huyết hư sau đẻ.

Tác dụng tuyệt vời của hạt dẻ

Hạt dẻ có thể chế biến thành những món ăn bổ dưỡng, rất tốt cho cơ thế, đặc biệt là người già yếu, suy nhược, lưng đau, gối mỏi. 

Hạt dẻ tươi sống ăn ngon nhưng dễ đầy hơi.

Hạt dẻ phơi khô (không phơi nắng) để hạt dẻ vào túi vải thừa hoặc làn tre thông gió. Mùi vị cũng rất ngon. Có thể dùng hạt dẻ phơi gió chữa nổi hạch limpho khối u vùng cổ với vai trò tăng sức đề kháng.

Hạt dẻ rang là món ăn được nhiều người yêu thích, lượng đường tinh bột có trong hạt dẻ là loại hấp thu chậm có thể dùng cho bữa ăn phụ trong ngày.

Hạt dẻ nghiền bột để nấu cháo, chè, bánh ga tô.

Hạt dẻ hầm với bầu dục để bổ thận, hầm với phổi bổ phế...

Hạt dẻ kho thịt bò ngọt bùi giảm béo.

Hạt dẻ xào với tề thái là món ăn quen miệng của người dân Tô Châu (Trung Quốc).

Hạt dẻ xào đường là món ưa thích của Từ Hy Thái Hậu.

Ăn hạt dẻ nóng sẽ mềm, ngọt, thơm hơn nhưng không ngọt mát như khi ăn nguội.

Các món ăn phòng chữa bệnh từ hạt dẻ:

Nhuận táo, tan đờm, điều hóa chức năng dạ dày: Hạt dẻ 250g, thịt lợn nạc 500g, gia vị vừa đủ. Ninh nhừ. Ăn với cơm. Dùng tốt cho trường hợp viêm phế quản mãn tính, ít đờm.

Hạt dẻ tính ôn, vị ngọt, rất bổ (bổ khí, tỳ phế, thận) nên người xưa còn nói dẻ có công dụng giống đảng sâm, hoàng kỳ. Do đó hạt dẻ được ưa dùng cho bệnh nhân mạn tính và thời kỳ hồi phục. Nhưng không nên lạm dụng vì sẽ bị nê trệ, gây khó tiêu đầy hơi. Một số tài liệu khuyên người bị tiểu đường không nên ăn các món có hạt dẻ


Ngày nay hạt dẻ được dùng trong làm thức ăn dinh dưỡng phòng chữa mỡ máu cao, xơ vữa mạch, tăng huyết áp, bệnh tim. Có hiệu quả trị liệu đối với viêm loét xoang miệng, lưỡi, môi (do thiếu vitamin nhóm B nhất là B2), hạt dẻ phòng chữa loãng xương tráng dương và ung thư...

Hạt dẻ và các loại hạt nói chung nhất là hạt vỏ cứng hạt hồ đào, điều, hướng dương, bí đỏ... có chung một số thành phần hoá học và tính năng công dụng gần giống nhau. Theo kinh nghiệm dân gian một số nước ngoài hạt làm thức ăn, hoa làm hương vị cho thuốc lá, lá làm thuốc chữa các bệnh đường hô hấp mạn tính, ho gà, đau nhức khớp, đau lưng, giãn cơ khớp, cầm máu.

Bổ thận khí, âm trung tiện, kiện tỳ vị, mạnh gân cốt. Dùng cho người tỳ vị yếu, phù nề, phụ nữ sau sinh: Hạt dẻ 150g, gà trống choai chỉ lấy phần thân (bỏ đầu, cổ, chân), trứng gà 1 quả, bột nước 30g, nước thịt luộc 0,75 lít. Gia vị: xì dầu, hành gừng.

Bổ thận, khí huyết, tỳ vị: Dùng cho người thận hư suy nhược, mất ngủ hay quên: Hạt dẻ 200g, nấm hương 5 cái, chim bồ câu non 1 con. Gia vị nước luộc thịt 2 bát con, rượu 1 thìa con, nước gừng 1 thìa con, hạt tiêu một ít, dầu vừng, xì dầu. Ướp thịt chim vào gia vị. Rán qua rồi cho tất cả vào ninh chín.

Bổ âm nhuận táo, bổ thận khỏe cơ. Dùng cho người âm hư, ho lâu ngày, da khô, lưng gối mỏi: Hạt dẻ 150g, bách hợp 20g, khiếm thực 15g, thịt nạc 100g, cá tươi 1 con 250g. Cá rán hơi vàng rồi cho các thứ còn lại ninh trong 2 giờ, nêm gia vị.

Bổ tỳ thận chữa tiêu hoá kém lưng đau, gối mỏi, phòng chống ung bướu. Hạt dẻ 100g, nấm đầu khỉ (hầu thủ) 200g, rượu 10g, gừng 5g, hành 10g, đường 15g, xì dầu 10g, dầu thực vật 35g. Phi thơm hành gừng cho rượu, xì dầu đảo đều rồi cho hạt dẻ và nấm, ít nước. Đun sôi rồi nhỏ lửa sao nhừ, nêm gia vị. Ăn với cơm.

Bổ thận khí, chắc răng: Hạt dẻ 100g, gạo 100g, đường phèn 100g, nước 1 lít. Hạt dẻ rang thơm nghiền nhỏ, cho đường phèn vào. Gạo nguyên hạt hoặc tán bột nấu cháo cho bột dẻ rang vào cháo ăn.

Chứng huyết ứ trệ, kinh lạc không thông làm cho tinh không xuất được gây đau tức bẹn âm ỉ: Hạt dẻ 100g, cải bắp 200g. Nước luộc gà, rượu, đường, gia vị. Hấp hạt dẻ với nước luộc gà, xì dầu cho nhừ. Xào cải bắp vàng thì vớt ra nhúng nước sôi hết dầu. Cho tất cả nấu thành canh. Muốn sánh thì cho bột. Cách ngày ăn một lần.

Chữa ho gà (ho từng cơn): Hạt dẻ 30g, thịt bí đao 30g, râu bắp 6g, đường phèn 30g. Nước 500ml nấu lấy 250ml nước pha đường phèn để uống, ngày 1 lần liền 10 - 15 ngày.

Tư bổ ngũ tạng, khí khuyết, cường gân kiện cốt: Dùng cho người già yếu, thiếu máu. Hạt dẻ 100g, trứng gà 100g, ninh hạt dẻ nhừ rồi đập trứng vào, nêm gia vị vừa ăn.

Nhuận da, dưỡng nhan sắc chữa mỡ máu cao, vàng da, ho, phù: Hạt dẻ 300g, táo đỏ (táo tầu) 100g, cẳng chân trước lợn 300g (chặt nhỏ), ít rượu, xì dầu, gia vị gừng hành... Tất cả cho với nước vừa đủ hầm chín, nêm gia vị nấu cho nhừ. Có thể vớt bỏ váng bọt mỡ cho đỡ béo ngậy rồ ăn.

Cách bóc vỏ hạt dẻ lấy nhân làm thức ăn, thuốc: Nếu rang hạt dẻ thì trước đó dùng dao rạch 1 đường trên hạt dẻ thì khi rang nóng vỏ rẽ nứt ra, dễ bóc.

Nếu luộc thì trước đó cho ít dầu rán vào nước luộc thì vỏ hạt dẻ sẽ mềm hơn nên dễ bóc.

BS. Phó Thuần Hương

Tác dụng chữa bệnh của trám trắng

Trám là cây gỗ to, cao khoảng 15 - 20m. Cành non màu nâu nhạt, có lông mềm. Lá kép lông chim, mọc so le, dài khoảng 30 - 40cm, gồm 7 - 11 lá chét. Lá gần gốc có đầu ngắn; lá ở giữa dài hơn, có đầu thuôn dài; lá tận cùng hình bầu dục. Lá chét dài 5 - 17cm, rộng 2 - 6cm, mép lá nguyên. Gân lá hơi rõ, mặt trên lá màu xanh nhạt, bóng; mặt dưới có lông mềm màu nâu bạc. Hoa mọc thành chùm kép ở đầu cành hay kẽ lá, tụ họp 2 - 3 hoa ở một mấu. Hoa hình cầu, màu trắng. Quả hình thoi, hai đầu tù, dài khoảng 45mm, rộng 20 - 25mm, khi chín có màu vàng nhạt, trong có hạch cứng nhẵn, hình thoi với 2 đầu nhọn, trong có 3 ngăn. Mùa ra hoa: tháng 6 - 7, mùa quả tháng 8 - 10. Ở nước ta còn có loài trám đen (Canarium nigrum Lour. Engl.), họ trám (Burseraceae). Là cây cao trung bình, lá kép hình lông chim, gồm 4 đôi lá chét. Hoa mọc thành chuỳ mang những nhánh gồm nhiều chùm tán 6 - 10 hoa. Quả hình trứng, màu tím đen. Cây được trồng ở nhiều nơi của nước ta lấy quả ăn và lấy nhựa. Nhân trám đen và trắng đều có khoảng 50 - 70 % chất colophan.


Bộ phận dùng: quả tươi hoặc khô rễ, lá và nhựa cây. Trám có vị ngọt, chua, tính bình; vào kinh phế vị. Giúp thanh nhiệt sinh tân, giải độc. Dùng cho các trường hợp đau sưng họng, viêm khí phế quản, sốt nóng, khát nước, ngộ độc cua cá.

Một số món ăn - bài thuốc chữa bệnh từ trám

Cháo trám vừng: Vừng đen 30g, trám quả 20g, bạch truật 15g, đào nhân 5g, mật ong 20g, gạo tẻ 60g. Đào nhân bóc bỏ vỏ và tâm. Đem bạch truật và trám nấu lấy nước. Lấy nước sắc được nấu cháo với gạo tẻ, vừng đen và đào nhân, khi cháo được cho thêm mật ong, khuấy đều. Ngày ăn 1 - 2 lần. Dùng mỗi đợt 7 - 20 ngày. Dùng cho các trường hợp viêm khí phế quản ho khan ít đờm, đau sưng họng.

Xi-rô trám củ cải: Trám 20g, củ cải 500g, rau mùi 30g. Củ cải thái lát thêm nước nấu với trám, sau thêm rau mùi, đường trắng (hoặc chút muối, khuấy đều, gạn lấy nước cho uống, Ngày sắc 1 lần, chia uống nhiều lần trong ngày. Dùng cho các trường hợp sởi, thủy đậu thời kỳ nổi ban, sốt phát ban....

Thanh quả lô căn ẩm:
Quả trám 10g, rễ sậy (lô căn) 30g. Trám đập vụn cùng rễ sậy đem sắc trong 30 phút. Dùng cho các trường hợp cảm nóng, cảm nắng, sốt nóng đau đầu, đau sưng họng, ho khan ít đờm.

Nước sắc trám mạch môn: Trám 30g, mạch môn 10g, huyền sâm 15g, cam thảo 6g. Cả 4 vị thuốc đều thái vụn, chia nhiều ấm nhỏ hãm cho uống trong ngày. Dùng liên tục một đợt 7 - 20 ngày. Chữa trường hợp viêm họng, viêm khí phế quản mạn tính, ho có đờm, đau sưng họng.

Chữa ngộ độc do ăn phải cá độc: trám 3 - 5 quả, sắc lấy nước để uống.

Chữa viêm tắc mạch: Quả trám trắng 200g, luộc kỹ, ăn và uống cả nước. Dùng liền trong 50 ngày.

Cao trám: Quả trám tươi 500g, đường trắng 125g. Đập vỡ quả, nấu với nước nhiều lần, bỏ bã, lấy nước, cho 125g đường trắng, hoà tan, lọc và cô lại còn 250ml. Ngày uống 2 - 3lần, mỗi lần 8 - 15ml, uống với nước đun sôi để nguội. Chữa cổ họng sưng đau, miệng ráo, lưỡi khô, nhiều đờm.

Chữa đau răng, sâu răng:
Quả trám đốt thành than, tán mịn, trộn với xạ hương. Bôi và xỉa vào chỗ đau.

Chữa lở sơn: Vỏ cây trám chặt nhỏ, nấu với nước để tắm.

Chữa nứt nẻ kẽ chân, gót chân khi trời rét: Hạt trám đốt thành than, tán mịn, thêm dầu lạc hay dầu vừng, trộn đều. Bôi hàng ngày.

Chữa tràng nhạc: Hạt trám, hạt gấc, vỏ quả mướp đắng đốt thành than, các vị liều lượng bằng nhau. Trộn đều, hoà với mỡ lợn, bôi vào chỗ sưng.

Quả trám tươi xanh có tác dụng giải độc rượu, chữa ngộ độc do cua cá. Quả chín có tác dụng an thần, chữa động kinh. Nhân hạt trị giun và chữa. Nhựa trám cất lấy tinh dầu, dùng trong kỹ nghệ nước hoa, colophan dùng trong kỹ nghệ vecni, xà phòng. Nhựa trám trộn với bột cây đậu tương, hương bài làm hương thơm. Do đó cây trám có nhiều tác dụng hữu ích trong phòng bệnh và chữa bệnh, cũng như kinh tế, dân sinh.

Học nghề trình dược viên ở đâu tốt

Trình dược viên là những người có trách nhiệm mang những loại thuốc mới đến với nhà phân phối và người tiêu dùng, đây được coi là một nghề khá hot với các bạn trẻ hiện nay bởi mức thu nhập cao và sự năng động trong công việc. Điều kiện để trở thành trình dược viên bạn phải tốt nghiệp trung cap duoc trở lên. Song để được nhà tuyển dụng đánh giá cao và để thành công trong nghề thì người học ngoài việc phải am hiểu các kiến thức chuyên môn về thuốc còn phải có những kỹ năng giao tiếp giỏi khi tiếp xúc với khách hàng. 




Học nghề trình dược ở đâu?
 
Trường Trung cấp Y tế Hà Nội là một trong các cơ sở đào tạo nhân lực chất lượng cho ngành y tế. Trung cấp dược là chuyên ngành đào tạo mũi nhọn, là thế mạnh của trường. Trước những đòi hỏi của thị trường lao động, trước mong muốn của người học, trường đã xây dựng lên khung chương trình chuẩn nhất về việc đào tạo trung cấp dược – trình dược viên chất lượng nhằm trang bị cho người học trung cấp dược những kiến thức, kỹ năng giao tiếp bán hàng, phân tích thị trường, kỹ năng marketing dược, chăm sóc khách hàng, xây dựng mối quan hệ, đàm phán thuyết trình…bên cạnh những kiến thức chuyên môn về dược phẩm.

Trong thời gian học tập tại trường học viên có cơ hội học tập từ các bệnh viện, phòng khám, công ty dược phẩm có liên hệ với trường, giúp bạn nhanh chóng làm quen với công việc cụ thể cũng như cơ hội tìm kiếm việc làm cho mình thông qua các kênh này.

 Trường trung cấp y tế Hà Nội người học đã được trang bị đầy đủ các kiến thức chuyên môn cũng như kỹ năng mềm cần có. Những kiến thức trong trường cũng là nền tảng vững chắc để các em có thể khẳng định và thành công trong nghề.

Tuyển sinh trung cấp dược – trình dược viên chất lượng


Để trở thành trình dược viên chuyên nghiệp nhanh chóng và hiệu quả nhất bạn nên đăng ký xét tuyển vào ngành trung cấp dược của trường Trung cấp Y tế Hà Nội. Chương trình tuyển sinh trung cấp dược của trường còn kéo dài từ nay đến hết ngày 31/12/2015 với hình thức xét tuyển học bạ lớp 12 các môn khối B bao gồm Toán, Hóa, Sinh. Đối tượng tuyển sinh trên cả nước bao gồm các cá nhân đã tốt nghiệp trung học phổ thông (bổ túc văn hóa). Nộp hồ sơ và học tại Cơ Sở 1: Số 2 Ngõ 233 đường Xuân Thủy, Cầu Giấy, Hà Nội (Đối diện ĐHSP Hà Nội); Cơ Sở 2: số 70 phố Giáp nhất, Phường Nhân Chính, Quận Thanh Xuân, TP Hà Nội.

Cách phân biệt nấm độc và nấm ăn được

Nấm là món ăn không chỉ thơm ngon mà còn có lợi cho sức khỏe nhưng nếu trường hợp không rõ nguồn gốc thì tuyệt đối không nên ăn. Nấm có hai loại chính, loại ăn được và không ăn được. Nấm không ăn được thường được gọi là nấm độc, nếu chẳng may ăn phải có thể dẫn đến tử vong, thực tế đã có nhiều trường hợp bỏ mạng vì lỡ ăn phải. Một số loại nấm ăn vào không làm bạn chết ngay nhưng sẽ gây nhiều bệnh về tiêu hóa, gan, thận, thần kinh... Nếu ăn nhiều, trong thời gian dài, không được điều trị kịp thời có thể dẫn đến tử vong.

Dùng mắt thường để phân biệt giữa nấm độc và nấm không độc là rất khó, vì vậy tuyệt đối không nên ăn nếu không rõ nguồn gốc.

Các loại nấm tuyệt đối không được ăn

- Những loại nấm có mùi thơm hấp dẫn hoặc có màu sắc sặc sỡ thường là nấm độc. Không nên ăn các loại nấm dại vì rất khó nhận biết

- Không ăn loại nấm nếu khi cắt, vết cắt có rỉ ra chất trắng như sữa.

- Nấm dại có độc có vẻ bề ngoài nhìn rất giống nấm trồng rất khó phát hiện nhưng nếu quan sát kỹ sẽ thấy gốc có bao và có vòng cổ.

- Không ăn cùng lúc nhiều loại nấm vì ngoài việc đề phòng lẫn nấm độc còn vì nhiều loại nấm nấu cùng sẽ gây phản ứng hóa học dễ gây ngộ độc.

- Không ăn nấm khi uống rượu vì có một số loại nấm dại tuy không độc nhưng có chứa những thành phần gây ra phản ứng hóa học với thành phần trong rượu nên dễ gây ngộ độc. 


Cach phan biet nam doc va nam an duoc


Những loại nấm nên ăn nhiều
Nấm hương

Nấm hương chứa một chất hương thơm đặc biệt, đó là adenine, vì vậy nấu món ăn với nấm hương có hương vị rất thơm ngon. Thành phần dinh dưỡng của nấm hương rất cao, giàu protein, có đến 9 loại acid amin, sắt, vitamin B, Egosterol có thể chuyển hóa thành vitamin D, ngăn ngừa thiếu máu, cao huyết áp và loãng xương hữu hiệu.

Ngoài ra, nấm hương còn chứa nhiều loại đường giúp tăng cường miễn dịch cho cơ thể, chất ARN sợi kép có thể phân tách ra, có thể can thiệp vào sự phát triển của tế bào ung thư và virus.

Nấm kim châm

Nấm kim châm rất giàu protein và chất xơ, không những có hương vị thơm ngon mà chất xơ trong nấm giúp thúc đẩy dạ dày, đường ruột nhu động, phòng chống táo bón và béo phì, công hiệu cực mạnh.

Ngoài ra, chất kẽm và kali có trong nấm kim châm rất tốt cho người già và bệnh nhân tăng huyết áp. Hơn nữa loại nấm này còn chứa một số chất giúp phòng chống ung thư hiệu quả.

Nấm rơm, nấm bào ngư

Vitamin C trong nấm rơm và nấm bào ngư tươi cao gấp 6 lần so với hàm lượng cam quýt, thường xuyên ăn nấm rơm có ích giúp nâng cao sức đề kháng. Ngoài chứa lượng cao protein, chất béo, các loại đường, canxi, photpho, sắt, vitamin B, vitamin C ra, nấm rơm còn chứa 7 đến 8 loại acid amin, còn có một loại protit khác biệt giúp ngăn chặn tế bào ung thư phát triển, là thực phẩm chống ung thư hữu hiệu. Nấm rơm thịt mềm, mịn, dễ ăn, mùi vị tươi ngon. Khi chọn mua nên chọn loại nấm dày dặn, ô nấm phía trên vẫn chưa mở ra hết là tốt nhất.

Nấm mèo

Nấm mèo là thức ăn, vị thuốc bổ dưỡng cho người khí huyết suy kém. Ăn nấm mèo sẽ giúp ngăn ngừa được bệnh tắc hoặc vỡ mạch máu ở người tăng huyết áp, hạn chế tai biến do nhồi máu cơ tim; nấm mèo giúp máu lưu thông toàn thân, đưa máu lên não đầy đủ hơn nên duy trì trí nhớ tốt.

Nấm mèo cũng có tác dụng giảm cholesterone trong máu, và góp phần kiểm soát cân nặng, rất tốt với những người thừa cân, béo phì.

Tác dụng chữa bệnh của trái sa kê

Sa kê còn gọi là cây bánh mì, tên khoa học Artocarpus altilis, thuộc họ dâu tằm (Moraceae) loại cây được trồng nhiều ở Malaysia và các đảo ở Thái Bình Dương. Vùng Tây Nam Bộ cũng xuất hiện loại cây này. Trái sa kê có thể chế biến thành các món ăn rất thơm ngon, đặc biệt các bộ phận như rễ, thân và lá của cây sa kê rất giàu dược tính, bộ phận được sử dụng làm thuốc trị bệnh là lá, rễ, vỏ và nhựa cây. 

tac dung chua benh cua trai sa ke


Quả sa kê có kích thước bằng quả mít tố nữ, tròn hoặc hình trứng. Quả sa kê mọc thành từng chùm, được sử dụng để chế biến thành nhiều món ăn ngon. Thường quả sa kê được xắt ra thành từng lát nhỏ, rổi tẩm với bột chiên giòn, mùi vị như ăn bánh mì. Ngoài ra còn được dùng để nấu cà ri, đặc biệt hơn là người dân thuộc khu vực sông Mê Kông nấu món kiểm để sử dụng trong những ngày giỗ chạp, đình đám vì món này có vị béo ngậy của nước cốt dừa. Sa kê còn được xay thành bột để chế biến thành nhiều món ăn thường ngày như làm thành pho mát, bánh ngọt hay nấu với tôm, cá trộn hay gạo.

Theo Đông y rễ sa kê có tính làm dịu, sát khuẩn, dùng để trị ho, hen suyễn, các chứng rối loạn dạ dày, đau răng hay bệnh về da rất tốt. Công dụng của vỏ cây sa kê là tiêu viêm, tiêu độc, lợi tiểu, dùng để trị ghẻ, nhựa cây sa kê pha loãng trị tiêu chảy, lỵ; Dùng lá sa kê phối hợp với lá đu đủ non tươi, giã với vôi để đắp trị mụn nhọt. Trong dân gian còn sử dụng lá sa kê để trị phù thũng hay viêm gan vàng da bằng cách lấy lá tươi nấu uống. Lá sa kê còn có thể phối hợp với một số vị thuốc khác trị gút, sỏi thận, tiểu đường, tăng huyết áp...

Để tìm hiểu thêm và áp dụng, dưới đây một số bài thuốc từ cây sa kê.

Trị tiểu đường týp 2: Lấy lá sa kê tươi 100g (khoảng 2 lá), quả đậu bắp tươi 100g, lá ổi non 50g, cho vào nồi nấu lấy nước uống hằng ngày.

Trị bệnh gút, sỏi thận: Dùng lá sa kê tươi 100g, dưa leo 100g, cỏ xước khô 50g, cho vào nồi nấu tất cả, lấy nước uống trong ngày.

Chữa viêm gan vàng da: Lá sa kê tươi 100g, diệp hạ châu tươi 50g, củ móp gai tươi 50g, cỏ mực khô 20 – 50g. Nấu chung, lấy nước uống trong ngày.

Trị chứng tăng huyết áp dao động: Dùng lá sa kê vàng (vừa rụng) 2 lá, rau ngót tươi 50g, lá chè xanh tươi 20g, nấu chung lấy nước uống trong ngày.

Trị đau răng: lấy rễ cây sa kê, nấu nước ngậm và súc miệng.

Những món ăn bài thuốc từ đậu phụ

Đậu phụ đã là món ăn quen thuộc trên mâm cơm của mọi gia đình Việt bao đời nay nhưng ít ai để ý đến tác dụng chữa bệnh của món ăn thơm ngon này. Với thành phần protein dồi dào, 100g đậu phụ có hàm lượng protein chiếm hơn 34%, ngoài ra đậu phụ còn chứa 8 loại axit amin, khoáng chất, canxi rất có lợi cho sức khoẻ con người. Theo Đông y, đậu phụ vị ngọt, tính mát, vào 3 kinh tỳ, vị và đại tràng, có công dụng ích khí khoan trung, kiện tỳ lợi thấp, sinh tân nhuận táo, thanh nhiệt giải độc và kháng nham. Vì vậy đậu phụ còn có tác dụng làm một loại thuốc hỗ trợ cho việc phòng và trị bệnh rất tích cực. Dưới đây là một số món ăn chế biến từ đậu phụ có tác dụng hỗ trợ phòng chống bệnh.

Bài 1: Có công dụng: bổ khí sinh tân, kiện tỳ ích vị, dùng thích hợp cho người bị tăng huyết áp, rối loạn lipid máu. Đậu phụ 200g, nấm mỡ hoặc nấm rơm 100g, tỏi 25g, tôm nõn khô 25g, nước dùng, dầu vừng và gia vị vừa đủ. Đậu phụ xắt miếng, nấm rửa sạch thái phiến, tỏi giã nát. Cho đậu phụ, nấm, tôm và muối vào nồi nước dùng đun sôi vớt bọt, vặn nhỏ lửa đun kỹ rồi cho tỏi và gia vị vào, dùng làm canh ăn.
 


nhung mon an bai thuoc tu dau phu


Bài 2: Có công dụng: kiện tỳ ích khí, thanh nhiệt giải độc, dùng thích hợp cho những người béo phì, tăng huyết áp, rối loạn lipid máu, vữa xơ động mạch, đau thắt ngực, suy nhược cơ thể, tỳ vị hư yếu. Đậu phụ 200g, giá đậu xanh 25g, cải canh 100g, dầu thực vật và gia vị vừa đủ. Giá đỗ và cải canh rửa sạch, cắt ngắn; đậu phụ xắt thành những khối vuông nhỏ. Đặt chảo lên bếp, phi hành cho thơm rồi cho giá đỗ vào đảo nhanh tay, chế thêm một lượng nước vừa đủ rồi đun to lửa cho sôi, tiếp tục cho đậu phụ và cải canh vào, chế đủ gia vị, vặn nhỏ lửa nấu cho chín rồi dùng làm canh ăn. Ăn liền 10 ngày

Bài 3: Có công dụng: ích khí hòa trung, sinh tân nhuận táo, dùng thích hợp cho những người bị tăng huyết áp, vữa xơ động mạch, đau thắt ngực do thiểu năng động mạch vành. Đậu phụ 100g, mộc nhĩ đen 15g, dầu thực vật, hành, gừng tươi và gia vị vừa đủ. Đậu phụ xắt thành những khối vuông nhỏ, mộc nhĩ ngâm nước và rừa sạch. Đặt chảo lên bếp, đổ dầu thực vật vào và phi hành, gừng cho thơm, tiếp đó cho đậu phụ và một lượng nước vừa đủ, đun nhỏ lửa cho cạn bớt rồi cho mộc nhĩ và gia vị cho vừa rồi dùng làm canh ăn. Một liệu trình là 7-10 ngày.

Bài 4: Có công dụng: thanh nhiệt hoạt huyết, dùng thích hợp cho những người béo bệu, tăng huyết áp, thiểu năng mạch vành, viêm gan, thưa xương, còi xương. Cua 500g, đậu phụ 200g, dầu thực vật, gừng tươi, xì dầu và gia vị vừa đủ. Cua rửa sạch, bỏ mai, giã nát lọc lấy nước cốt; đậu phụ xắt thành những khối vuông nhỏ. Đặt chảo lên bếp, phi hành và gừng cho thơm rồi đổ nước cua và đậu phụ vào, đun to lửa cho sôi, chế thêm gia vị, dùng làm canh ăn. Ăn liền 10 ngày.

Bài 5: Có công dụng: bổ khí sinh tân, làm hạ mỡ máu, điều hòa huyết áp và chống ung thư, dùng cho người cơ thể suy nhược, tỳ vị hư yếu, tăng huyết áp, rối loạn lipid máu, thiểu năng mạch vành ....Đậu phụ 300g, nấm hương 30g, măng tươi 30g, rau cải 100g, dầu thực vật, xì dầu, bột đao, nước dùng và gia vị vừa đủ. Măng và nấm rửa sạch thái phiến; đậu phụ xắt thành khối vuông nhỏ rồi chần qua nước sôi, để ráo nước. Đổ dầu thực vật vào chảo, phi hành cho thơm rồi cho nấm hương, măng, đậu phụ, nước dùng, xì dầu và gia vị vào đun to lửa cho sôi rồi lại tiếp tục dùng lửa nhỏ đun cho đến khi đậu phụ ngấm gia vị, tiếp đó cho rau cải thái nhỏ và một chút bột đao vào, đảo nhẹ tay rồi bắc ra, dùng làm canh ăn hằng ngày. Một liệu trình là 7-10 ngày.